Sau chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, ngày 8/5/1954, Hội nghị Geneva bắt đầu thảo luận vấn đề lập lại hòa bình ở Đông Dương. Phái đoàn Chính phủ ta do Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Văn Đồng làm Trưởng đoàn, bước vào bàn Hội nghị với tư thế của một dân tộc chiến thắng. Khẳng định lập trường hòa bình Ngay từ tháng 11/1953, trả lời phỏng vấn của báoExpressen(Thụy Điển) về tình hình chiến tranh Đông Dương và cuộc luận bàn Quốc hội Pháp muốn dàn xếp hòa bình với Việt Nam, chủ toạ Hồ Chí Minh đã nói rõ lập trường của Chính phủ ta: “Nếu Chính phủ Pháp đã rút được bài học trong cuộc chiến tranh mấy năm nay, muốn đi đến đình chiến ở Việt Nam bằng cách thương thuyết và giải quyết vấn đề Việt Nam theo lối hòa bình thì quần chúng. # Và Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa sẵn sàng tiếp ý muốn đó... Cơ sở của đình chiến ở Việt Nam là Chính phủ Pháp thiệt thà tôn trọng nền độc lập thật sự của nước Việt Nam”. Đáp Thông tấn xã Việt Nam ngày 6/7/1954 về diễn biến của Hội nghị Geneva, Bác khẳng định: “Với những vấn đề được bàn thảo, Hội nghị đã mở đường cho việc lập lại hòa bình ở Đông Dương. Trên cơ sở đó, nếu đối phương cũng thành thật muốn thương thảo như chúng ta mà cũng cố kỉnh để lập lại hòa bình ở Đông Dương, thì hòa bình Đông Dương có thể thực hành. Theo đúng lập trường của ta từ trước đến nay, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ tiếp chuyện nắm đấu tranh cho hòa bình, độc lập, hợp nhất, dân chủ của giang san...”. Sau 75 ngày chiến đấu ngoại giao kiên quyết và mềm mỏng, ngày 20/7/1954, hiệp nghị Geneva về lập lại hòa bình ở Đông Dương được ký kết. Các nước tham dự Hội nghị cam kết quý trọng chủ quyền, độc lập, thống nhất và vẹn toàn bờ cõi của Việt Nam. Văn bản của Hội nghị có đoạn ghi: dấn rằng mục đích cơ bản của Hiệp định về Việt Nam là giải quyết vấn đề quân sự để đình chiến và giới tuyến quân sự chỉ có tính chất Diet kien tạm thời. Việc hợp nhất hai miền Nam - Bắc Việt Nam sẽ được thực hiện duyệt y tổng tuyển cử toàn quốc vào tháng 7/1956. “Chẳng thể chia cắt Việt Nam” Hai ngày sau khi Hội nghị Geneva được ký kết, ngày 22/7, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi: “Hội nghị Geneva đã chấm dứt. Ngoại giao ta đã thắng to… Tôi kính cẩn nghiêng mình trước vong linh các chiến sĩ và đồng bào đã oanh liệt hy sinh cho đất nước và gửi lời yên ủi anh em thương binh bệnh binh…”. Lời kêu gọi cam kết sẽ thực hành những điều khoản của hiệp nghị nhưng cũng nhấn mạnh “Trung Nam Bắc đều là bờ cõi của ta, nước ta nhất mực sẽ thống nhất, đồng bào cả nước cố định được giải phóng. Đồng bào miền Nam kháng chiến đầu tiên, giác ngộ rất cao. Tôi tin rằng đồng bào sẽ đặt ích lợi của cả nước trên lợi. Địa phương, lợi. Lâu dài trên ích trước mắt…”. Tinh thần ấy vẫn tiếp chuyện được Người khẳng định trong những lần giải đáp phỏng vấn báo chí nước ngoài sau này. Ngày 13/7/1956, giải đáp các câu hỏi của phóng viên HãngAP(Mỹ) về cuộc tổng tuyển cử toàn quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định đanh thép: “nhân dân cả nước Việt Nam sẽ chiến đấu mạnh hơn để cho có tổng tuyển cử tự do trong khắp cả nước. Đó là ước muốn tha thiết của toàn dân Việt Nam đã được hiệp nghị Geneva1954 nhấn… giang sơn Việt Nam từ Bắc đến Nam là một khối, cần được thống nhất. Không thể chia cắt Việt Nam làm hai nước riêng biệt, cũng như Không thể chia cắt Hoa Kỳ thành hai nước biệt lập…”.
Ngày 23/7/1961, Bác tham dự cuộc mít tinh của 25 vạn dân chúng Thủ đô Hà Nội tại Quảng trường Ba Đình, nhân kỷ niệm 7 năm ký kết hiệp nghị Geneva lập lại hòa bình ở Đông Dương. Phát biểu tại đây, Bác căn dặn: “đoàn kết là sức mạnh, đồng bào cả nước đoàn kết, chúng ta kết đoàn với nhân dân các nước tầng lớp chủ nghĩa, với dân chúng châu Á, châu Phi, châu Mỹ Latinh và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới, nhất quyết chúng ta sẽ thắng đế quốc Mỹ và bọn tay sai”. Sau đó, Bác bắt nhịp để mọi người hát bài ca “Kết đoàn”. Ngày 20/7/1965, trong Lời kêu gọi nhân kỷ niệm 11 năm ký kết Hiệp định Geneva, Bác viết: “Dù phải tranh đấu 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa, chúng ta cũng cương quyết tranh đấu đến thắng lợi hoàn toàn”. Bài học “Dĩ bất biến, ứng vạn biến” Theo nhà ngoại giao lão thành Võ Văn Sung, chiến thắng của hiệp nghị Geneva và hiệp nghị Paris sau này là bài học về môn phái ngoại giao Hồ Chí Minh. Phân tích về bài học “dĩ bất biến, ứng vạn biến” được vận dụng trong hiệp nghị Geneva, ông Sung cho rằng: “Trong hiệp nghị Geneva, cái "bất biến" là Việt Nam độc lập, thống nhất, chu toàn lãnh thổ. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đến Hiệp định Paris sau này. Còn "vạn biến" là trong lúc chưa thực hành được mục tiêu đầy đủ, có thể nghĩ ra hàng vạn cách, kể cả để một nửa nước lâm thời chưa được giải phóng, rồi từng bước, từng bước tiến tới đạt được mục tiêu bất biến. Đó là một phương pháp ngoại giao, trong môn phái ngoại giao Hồ Chí Minh.” “Tôi Diet gian nghiên cứu nhiều tài liệu, nhưng không thấy có nước nào vừa đánh - vừa đàm như ở nước ta. Kết hợp quân sự - ngoại giao, lấy quả đấm quân sự đi đôi với thương thuyết ngoại giao, vận động chính trường quốc tế, khích lệ quần chúng. # Bạn bè trên thế giới, tất sẽ dẫn đến thắng lợi. Đó là nghệ thuật ngoại giao của Bác Hồ. Thành tựu lịch sử trong cuộc chống chọi lâu dài của quần chúng ta là một trận Điện Biên Phủ trên mặt đất đưa đến hiệp nghị Geneva tại bàn thương lượng và một trận Điện Biên Phủ trên không đưa đến hiệp nghị Paris. Tôi gọi đó là sự trùng hợp kỳ tác lịch sử, vô tiền khoáng hậu trên thế giới, là bộc lộ chói lọi của trường phái ngoại giao Hồ Chí Minh.”, Ông Sung nhận định. Với chiến thắng Điện Biên Phủ và chiến thắng trên bàn đàm phán của hiệp nghị Geneva, tiếng tăm của Chủ tịch Hồ Chí Minh và cái tên ghép Việt Nam - Hồ Chí Minh trở nên thân quen, được biết đến rộng rãi và tôn trọng trên khắp thế giới. Đúng như lời Giáo sư Mighen Đêtêphanô của Cuba đánh giá: “Với vũ khí của mình, Hồ Chí Minh đã là tác giả của thắng lợi đó... Và tiếng tăm của Người đã được ghi vào những trang sử vinh quang nhất”. Phan Mích(tổng hợp) * Bài đã đăng trên Thế giới&Việt Nam |
Thứ Năm, 17 tháng 7, 2014
Bác Hồ với hiệp nghị Geneva
Đăng ký:
Đăng Nhận xét (Atom)
Đăng nhận xét