Ô nhiễm ngày càng nghiêm trọng Thống kê của Sở Tài nguyên và môi trường (TN&MT) TP Hồ Chí Minh cho thấy, hiện thành thị có khoảng 3.300 nguồn thải từ các cơ sở sinh sản, thương nghiệp, dịch vụ. Trong đó, chỉ có 35% số cơ sở sinh sản, dịch vụ, thương nghiệp có hệ thống xử lý môi trường đạt quy chuẩn môi trường.

Nước thải sinh hoạt chiếm hơn 60% tổng lưu lượng nước thải ra hệ thống sông rạch TP Hồ Chí Minh, nhưng mới chỉ khoảng 20% tổng lượng nước thải được xử lý… |
Kết quả quan trắc chất lượng nguồn nước vừa được Sở TN&MT ban bố cho thấy, nguồn nước tại hệ thống kênh rạch ở TP Hồ Chí Minh đang trong tình trạng ô nhiễm nặng nề. Các thành phần như BOD5 (nhu cầu oxy sinh học), COD (nhu cầu oxy hóa học), chỉ tiêu vi sinh (coliform), hàm lượng chất lơ lửng (SS), kim khí nặng... Đều vượt tiêu chuẩn từ vài chục đến cả ngàn lần cho phép. Tình trạng ô nhiễm càng trở thành nghiêm trọng hơn khi thủy triều xuống thấp.
Tình trạng này làm suy giảm chất lượng nguồn nước kênh rạch nội thành và nguồn nước sông, ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn cấp nước phục vụ sinh hoạt của người dân đô thị.
Chỉ tính riêng phần nước thải từ các khu chế xuất, khu công nghiệp trên địa bàn thành thị cũng đã cho thấy tình trạng ô nhiễm ở mức đáng báo động. Tại TP Hồ Chí Minh, 15 khu chế xuất, khu công nghiệp dù đã đưa vào vận hành hệ thống xử lý nước thải tập kết nhưng vẫn còn hơn 700 nguồn thải khác chưa được kiểm soát hết vẫn đang thải ra môi trường. Đó là chưa kể các cơ sở công nghiệp phân tán nhỏ nằm trong khu dân cư cũng thẳng băng xả nước thải chưa qua xử lý ra kênh rạch.

Sông Sài Gòn nhận nhiều nguồn nước thải ác hại mỗi ngày. |
Trong khi đó, một nghiên cứu khoa học của Dự án kiểm soát nguồn thải phân tán dọc sông Sài Gòn do Chính phủ Tây Ban Nha tài trợ tại TP Hồ Chí Minh còn chỉ ra rằng, nước thải sinh hoạt của người dân tỉnh thành cũng là một trong những duyên do chính gây ra tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng như hiện thời.
Kết quả nghiên cứu của dự án này chỉ ra rằng, chất lượng nước sông Sài Gòn bị suy giảm bởi rất nhiều nguồn thải như nước chảy tràn thành thị, nước thải từ các khu dân cư, rò rỉ dầu từ hoạt động liên lạc thủy, bãi chôn lấp rác, khai khoáng và hoạt động sinh sản công nghiệp, nông nghiệp. Trong đó, đáng ngại nhất là nước thải khu vực dân cư, mà cụ thể là nước thải sinh hoạt nhiễm phân và nước chảy tràn thành thị. Do diện tích bê tông hóa của thành thị ngày một lớn nên lượng nước mưa không thể thẩm thấu xuống đất mà chảy tràn mang theo cả thảy chất thải trên bề mặt đất xuống kênh rạch dẫn ra sông. Còn chất thải từ các bể phốt hoạt động không hiệu quả hoặc không qua bể phốt thải hết ra sông đang khiến cho nguồn nước sông ô nhiễm khá nặng. Triển khai nhiều giải pháp đồng bộ
Nhằm giải quyết tình trạng nguồn nước đang bị ô nhiễm ngày tại đây một nghiêm trọng, mới đây, UBND TP Hồ Chí Minh đã ban hành quy định mới về phân vùng xả thải và tiêu chuẩn nước thải, nép các doanh nghiệp phải xử lý nước thải trước khi xả thải ra môi trường.
Theo đó, nước thải tại các khu vực hồ Kỳ Hòa, Đầm Sen, hồ trong công viên Hoàng Văn Thụ, các ao hồ khác trên địa bàn TP Hồ Chí Minh và nhiều đoạn trên sông Sài Gòn và sông Đồng Nai phải đạt quy chuẩn loại A. Chất lượng nước thải của các nguồn xả thải ra 97 tuyến sông, suối, kênh rạch dẫn ra sông Đồng Nai, sông Sài Gòn bắt buộc phải đạt loại A. Đối với 14 tuyến kênh rạch khu vực trung tâm tỉnh thành như Kênh 19/5, Tham Lương, Nước Đen, Nhiêu Lộc-Thị Nghè, Văn Thánh, Tàu Hủ, Bến Nghé, Đôi - Tẻ, Tân Hóa - Lò Gốm, Hàng Bàng, Rạch Nước Lên, sông Chợ Đệm…, nguồn nước thải phải đạt quy chuẩn loại B.
Với quan điểm nhất quán “không đánh đổi môi trường để lấy tăng trưởng kinh tế”, thành thị đã thực hành đồng bộ các giải pháp về vấn đề môi trường. Trong đó, việc HĐND thành thị đồng chi hàng tỉ USD trong cơ cấu chi ngân sách là một minh chứng. Song song đó, hàng loạt biện pháp chế tài được tỉnh thành đề ra như: cương quyết xử lý nghiêm những trường hợp không chấp hành hoặc xử lý không đạt các Quy chuẩn môi trường, có biện pháp xử lý mạnh như niêm phong công đoạn sản xuất gây ô nhiễm, đình chỉ sinh sản, buộc di dời đối với cơ sở tái phạm nhiều lần… đang được người dân kỳ vọng sẽ tạo ra những biến chuyển mang tính căn bản về vấn đề môi trường của thành phố.
Thạc sỹ Huỳnh Văn Sinh - Trường Cán bộ TP Hồ Chí Minh (người vừa có công trình nghiên cứu về Nếp sống thị dân ở TP Hồ Chí Minh): Gắn trách nhiệm cho người dân Lâu nay, thành thị khai triển chưa đồng bộ các giải pháp bảo vệ môi trường nước; kinh phí cho hoạt động giám sát, thẩm tra việc xả thải của doanh nghiệp, cơ sở sinh sản… còn thiếu. Lực lượng mỏng, nên các doanh nghiệp thừa cơ dùng “ống chìm ống nổi” để xả nước thải trực tiếp ra hệ thống sông rạch, gây ô nhiễm nguồn nước. Theo tôi, việc tỉnh thành xác định đây là một trong 6 khâu đột phá trong thời gian tham khảo ở đây tới là một việc làm cần thiết. Ở góc độ một người nghiên cứu về nếp sống thị dân, tôi nghĩ tỉnh thành nên có những chính sách tuyên truyền để người dân đô thị nói riêng, cũng như người dân từ nơi khác đến làm ăn, sinh sống tại đô thị thấy được trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ môi trường, nâng cao “ý thức sở thuộc” coi đô thị là của mình, gắn liền với sự sống còn của bản thân mình. Đồng thời đó, đô thị nên tăng cường các biện pháp chế tài, phạt thật nặng với những hành vi vi phạm pháp luật về môi trường. TS Trần Viết Mỹ - Nguyên Chi cục trưởng Chi cục Khuyến nông TP Hồ Chí Minh: Thành lập nhóm giám sát tình nguyện Theo tôi, cần phải từng lớp hóa việc giám sát và bảo vệ các con sông bằng việc vận động thành lập các nhóm giám sát tự nguyện. Đối tượng dự trước mắt là thanh, thiếu niên sống trong lưu vực sông Sài Gòn, tuổi từ 11-20. Sau đó, có thể vận động sự tham gia của các lứa tuổi khác. Để hình thành được các nhóm này cần có sự tham dự hăng hái ngay từ đầu của các tổ chức xã hội- nghề nghiệp như Hội KHKT Lâm nghiệp, Hội Sinh vật cảnh, Hội Làm vườn & Trang trại, các hội có can dự về sinh thái, môi trường giúp định hướng, cung cấp thông tin như trang bị tri thức về môi trường, về tình hình hiện hữu của sông Sài Gòn cũng như hệ thống sông, rạch của thành phố. Điều này giúp họ có tư duy chiến lược, giải pháp dự bảo vệ dòng sông; có dịp bàn luận về phương thức tiến hành hoạt động nhóm, tổ chức giao lưu thảo luận kinh nghiệm triển khai. Bên cạnh đó, cũng cần có sự tham gia tương trợ của các đoàn thể (Đoàn TNCS, Hội dân cày, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ), chính quyền địa phương để các nhóm có công cụ hoạt động, giúp liên kết với các cơ quan sở quan, chính quyền địa phương... |
L. Hiền
|
Đăng nhận xét